Text Link Underline Remover
   
Tab
 Trang chủ    Giới thiệu chung    Hoạt động    Trung tâm y học cổ truyền    Sản phẩm    Tài liệu tham khảo   Liên hệ
     index noidung 1
Ung thư gan



Trước hết chúng tôi xin đưa ra bản thống kê nhanh của Hội ung thư Hoa Kỳ trong 5 năm liên tiếp dưới đây:

Năm

Số ca mới mắc bệnh ung thư gan mật

Số ca chết do ung thư gan mật

Tổng số

Nam

Nữ

Tổng số

Nam

Nữ

2005

17.550

12.130

5.420

15.420

10.330

5.090

2006

18.510

12.600

5.910

16.200

10.840

5.360

2007

19.160

13.650

5.510

16.780

11.280

5.500

2008

21.370

15.190

6.180

18.410

12.570

5.840

2009

22.620

16.410

6.210

18.160

12.090

6.070

2010

24.120

17.430

6.690

18.910

12.720

6.190


Bảng 1. Số liệu ung thư gan Hoa Kỳ (American Cancer Society)

Bản tổng kết trên cho thấy tốc độ tăng của các ca ung thư gan mật ở Hoa Kỳ trong 5 năm gần đây là khá nhanh. Mặc dù các biện pháp phòng ngừa, khám và chữa bệnh của Hoa Kỳ rất hiện đại cộng với sự đầu tư khổng lồ trong việc nghiên cứu về các thuốc diệt siêu virut gan A, B, C, các vắc xin phòng ngừa cũng như các phương pháp chữa bệnh tiên tiến như hóa trị, xạ trị, phẫu thuật, bằng kỹ thuật nano, bằng tế bào gốc, nhưng sự thật là nền y khoa hiện đại của Hoa Kỳ đang bế tắc trước phòng và chữa bệnh ung thư gan mật.

Chúng ta đồng thời xem bản tổng kết nhanh về số liệu ung thư gan của Việt Nam do Tổ chức Y Tế Thế giới thống kê số liệu của năm 2008 dưới đây:

Số ca mới mắc bệnh

Tỉ lệ trên 100.000 dân

Số người chết

Tỉ lệ trên 100.000 dân

15.193

42,3

14.073

38,2


Bảng 2. Số liệu ung thư gan Việt Nam năm 2008 do Tổ chức Y Tế Thế giới thống kê

Cách tính này dựa vào các con số thống kê ở các bệnh viện. Còn những người mắc bệnh không đến khám chữa ở bệnh viện trong nước mà ra nước ngoài hay chỉ chạy chữa bằng các phương pháp dân gian thì chưa có báo cáo.

Qua con số thống kê trên đây, thì tình hình phòng và chữa bệnh ung thư gan ở Việt Nam cũng như ở Hoa Kỳ thật là tồi tệ.

Điều đó nói lên rằng chúng ta không thể chỉ dựa hoàn toàn vào khả năng khám chữa bệnh hiện có ở các bệnh viện và kết quả nghiên cứu của y khoa thế giới được ứng dụng vào việc phòng, khám, chữa bệnh ung thư gan ở Việt Nam. Nếu như tình hình cứ diễn biến như hiện nay, tất yếu người mắc bệnh K gan hay ung thư gan sẽ phải chấp nhận chết vì số lượng người mắc bệnh ngày càng tăng.

Vì lẽ ấy, khắp nơi tại Việt Nam, người bị bệnh đều thường tìm cách tự cứu mình bằng các bài thuốc trong dân gian tồn tại hàng trăm năm. Người ta dùng nước, dùng lửa, dùng cỏ cây, động vật… để tự chữa bệnh cho mình.

Khi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư gan, ông Mai Xuân Khởi (Quảng Bình) đã hoảng loạn, tìm cách ăn cóc sống để tự tử (Con cóc Việt Nam – Bufo melanostictus). May mắn thay bản năng cơ địa đặc biệt của ông không bị các độc chất của con cóc giết chết ngay mà đã kéo dài được cuộc sống ít lâu. Nhiều người nhầm lẫn bắt trước cách chữa bệnh nguy hiểm này đã gây ra rất nhiều cái chết đau thương khổ sở.

II. Những nguyên nhân chính dẫn đến K gan – ung thư gan

1. Viêm gan virut B, C, lâu và tiến triển dẫn đến K gan. Ở Việt Nam, tỉ lệ K gan phát triển từ viêm gan virut B chiếm tỉ lệ rất cao.
2. Uống rượu và bia nhiều làm cho gan bị suy yếu và ngộ độc rượu, nhất là các loại rượu không rõ nguồn gốc. Những chất độc của rượu, ngoài chất alcol etylic còn có methanol aldehyde làm gan xơ héo dần dẫn đến K gan. Nếu những người đã bị nhiễm virut gan B, C mà nghiện rượu bia thì khó tránh khỏi bị K gan.
3. Chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, chất bảo quản hoa quả… Do thiếu kiến thức, những người nông dân tiếp xúc trực tiếp nhiều với thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, nhiều phụ nữ bán hoa quả có sử dụng nhiều chất bảo quản độc hại hoặc ăn phải những loại hoa quả này lâu ngày bị K gan.
4. Những người uống thuốc chống virut viêm gan B lâu ngày, gan bị xơ hóa và gây ra K gan trên nền xơ gan.
5. Những người bị sỏi túi mật, nhất là dạng sỏi bùn, thành túi mật dầy, dịch mật đục, khi phẫu thuật bị cắt bỏ túi mật, bùn mật và sỏi túi mật lắng đọng khắp gân gây viêm nhiễm và tạo thành K gan.
6. Khi bị các loại K khác như dạ dày, tụy, đại tràng, phổi, dùng hóa trị liệu, gan bị áp lực độc hại gây K gan thứ phát.
7. Môi trường (ngoại môi) bị ô nhiễm, nước uống, rau ăn, thực phẩm, lương thực không đảm bảo sạch, an toàn vệ sinh, tỉ lệ các chất kim loại nặng, dioxin cao quá ngưỡng cho phép, người bệnh tiếp xúc với môi trường ô nhiễm lâu ngày dẫn đến mắc ung thư gan.
8. Điều trị bệnh bằng quá nhiều thuốc có chứa các hóa chất độc hại không thể được đào thải khỏi cơ thể, dần tạo thành những bãi thải lớn độc hại trong cơ thể, gan không còn khả năng loại độc dẫn đến K gan.

Vì nguyên nhân dẫn đến K gan nhiều và phức tạp, vậy cho nên việc phòng chống và chữa trị trở nên khó khăn, liên quan tới toàn xã hội, nhất là biện pháp an toàn dùng thuốc tân dược của ngành y tế.

III. Nam Y phòng bệnh K gan

Với 8 nguyên nhân chính đã nêu trên dẫn đến K gan đều liên quan đến thói quen sinh hoạt, ý thức và hành xử của toàn xã hội. Đáng chú ý nhất là sự lây lan của virut viêm gan B. Con số bệnh nhân bị K gan do virut gan B đến với cơ sở Nam Y Đạo Pháp là khá nhiều, còn do các nguyên khác thì ít hơn. Do vậy việc phòng bệnh ung thư gan ở Việt Nam chính là chữa khỏi viêm gan do virut gan B, nhất là đối với các bệnh nhân viêm gan virut B đang tiến triển.


Gan, Mật, Tụy

Các bệnh nhân viêm gan virut B đến với cơ sở Nam Y Đạo Pháp đều có kết quả xét nghiệm rõ ràng mức độ viêm nhiễm thường có chỉ số định lượng HBV-DNA từ 10(5) copies/ml đến 10(9) copies/ml. Kèm theo là các chỉ số sinh hóa bị rối loạn như AST(SGOT) và ALT(SGPT) tăng cao trên 40 U/L. Các chỉ số Cholesterol, Triglyceride, Ure huyết cũng nhiều lúc không bình thường. Các chỉ số khác về huyết áp, nhịp tim cũng thay đổi. Phần lớn tất cả các bệnh nhân viêm gan virut B được điều trị tại cơ sở đều có kết quả mỹ mãn, xét nghiệm máu cho thấy định lượng HBV-DNA dưới ngưỡng phát hiện 5×10(1) copies/ml hoặc 2×10(1) copies/ml. Tuy vậy vẫn có bệnh nhân đã điều trị đến năm thứ ba mà kết quả không tiến triển tốt, định lượng HBV-DNA là từ 5,9×10(9) copies/ml xuống còn 2,7×10(5) copies/ml, có thể là do uống thuốc không đều và liên tục, tuy vậy nguy cơ bị K gan là không cao.

Một nguyên tắc chữa bệnh tại cơ sở Nam Y Đạo Pháp đối với những người mắc bệnh viêm gan do virut gan B cần nghiêm chỉnh thực hiến chế độ kiêng rượu, bia, và thuốc lá thì phải bỏ hẳn.

Có một số trường hợp K gan rất nặng do sử dụng thuốc chống virut gan B lâu ngày không dứt điểm, gan bị xơ hóa nặng dẫn đến tình trạng nội môi cơ thể bị sụp đổ nghiêm trọng. Điều này cho thấy cần phải cảnh giác khi dùng thuốc diệt virut gan B của tân dược vì có nhiều rủi ro và tác dụng phụ.

Tại cơ sở Nam Y Đạo Pháp, vũ khí chính để giúp những người bị viêm gan do virut B là vận dụng phương pháp dùng thuốc theo Kỳ Môn Y Pháp và sử dụng sản phẩm Linh đan Thiềm Ô Châu để loại bỏ virut gan B ở mọi giai đoạn tiềm ẩn và tiến triển.

Nếu phương pháp này được nghiên cứu mở rộng và phổ cập, có thể loại bỏ nguy cơ của các loại virut gan A, B, C và tránh được từ 70% đến 80% các ca ung thư gan đang hoành hành và gây tử vong cao đối với các bệnh nhân mắc phải.

IV. Nam Y chữa bệnh K gan

Phần này giới thiệu ý nghĩa của việc chữa bệnh của Nam Y Đạo Pháp phối hợp với kỹ thuật TOCE (nút mạch) mà nhiều bệnh nhân bị K gan đã thực hiện tại các cơ sở bệnh viện lớn.

Khi đến với cơ sở Nam Y Đạo Pháp, rất ít bệnh nhân có ngay niềm tin vào cơ sở chữa bệnh của chúng tôi mà đa số đã thực hiện việc khám, điều trị và sử dụng các y thuật ở các bệnh viện. Một số ít những bệnh nhân hiểu biết nắm được nhiều thông tin về cách chữa bệnh theo Tây y, hoặc một số khác không có khả năng tài chính để trang trải các chi phí thực hiện phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, đốt cồn hoặc nút mạch thì đã đến trực tiếp tại cơ sở xin được chữa trị.

Với nguyên tắc chữa bệnh dựa trên quy luật sinh học, đối với bệnh nhân đã bị ung thư gan thì cần phải có nhiều thông tin ngoài việc xác định khối u bằng hình ảnh siêu âm, không cần xét nghiệm tế bào ác tính hay lành tính vì đó là không cần thiết. Chúng tôi cho làm xét nghiệm về các chỉ số sinh hóa, huyết học, nước tiểu, và các chất chỉ điểm ung thư.

Đồng thời với các kết quả chẩn đoán thuộc y học thực nghiệm, chúng tôi khuyên bệnh nhân không nên lạm dụng việc chụp hình ảnh có chất chỉ thị phóng xạ như chụp cắt lớp vi tính (CT Scan), cộng hưởng từ (MRI), chụp PET CT.

Chúng tôi cho đo nhiệt độ tỉnh huyệt bằng máy Đo Kinh Lạc để xác định tình trạng sức khỏe dựa trên 24 đường kinh lạc trong cơ thể. Đồng thời áp dụng “tứ chẩn” của Đông y phối hợp với quy luật sinh học của Nam Y. Như vậy chúng tôi đã dùng “thất chẩn” để tránh mọi sai sót khi điều thuốc ra đơn cho bệnh nhân.

Cuối cùng, chúng tôi dùng Kỳ Môn Y Pháp để điều động các vị thuốc đáp ứng với mọi rối loạn chức năng của cơ thể dựa vào các chỉ số kết quả xét nghiệm, các kết luận đo kinh lạc, cân bằng bát cương, và các quy luật sinh học của từng bệnh nhân cá biệt.

Mục đích trước hết của đơn thuốc dùng để giải độc “nội môi” – môi trường bên trong cơ thể. Nó bao gồm việc giải độc khí huyết, giải độc phủ tạng, giải độc cơ nhục, giải độc tế bào. Các vị thuốc dùng trong Kỳ Môn Y Pháp hầu hết không chứa alkaloidglucozit gây độc hại cho cơ thể.

Tiếp đến là để phục hồi khả năng miễn dịch, khả năng tự vệ của cơ thể.

Kiện toàn tiêu hóa để có thể ăn tốt hơn, tiếp thu được thuốc, lương thực, thực phẩm.

Kiện toàn bài tiết và tuần hoàn để cơ thể có khả năng đối phó với các rối loạn.

An thần để bệnh nhân không căng thẳng, giảm stress.

Phối hợp với Linh đan Thiềm Ô Châu, là thức ăn bí truyền được luyện đặc biệt từ con cóc Việt Nam – Bufo Melanostictus không còn bất kỳ chất độc nào (được kiểm nghiệm rất kỹ về độc tính tại Viện Kiểm nghiệm Bộ Y Tế).

Linh đan Thiềm Ô Châu có khả năng chống các virut, loại bỏ các vật thể lạ, dị vật trong cơ thể.

Linh đan Thiềm Ô Châu có tác dụng bồi bổ gân xương, cơ nhục.

Trong điều trị, Linh đan Thiềm Ô Châu là vị thuốc bổ huyết, sinh tinh, mạnh khí, tĩnh tâm, an thần.

Khi uống, bệnh nhân thấy khối u nhanh chóng mất đi, kèm theo ngủ ngon, tóc mọc dầy lên, đen lại, công thức máu được kiện toàn. Khả năng tình dục mạnh mẽ hơn sau khi cơ thể được phục hồi. Đặc biệt nó là vị thuốc nâng cao khả năng tình dục nhưng không gây ra động thai hay sảy thai đối với trường hợp đang mang thai phải điều trị K.

Các bệnh nhân có cơ thể suy yếu còn phối hợp cho dùng Nhân sâm Ngọc Linh – Panax Articulatus với liều từ 10gr đến 15gr một ngày.

Phối hợp với Thần Châm để cứu thoát các vùng đau đớn do thiếu máu cục bộ và rối loạn năng lượng sinh ra.

Số người bị K gan mà chưa bị tắc tĩnh mạch cửa và không mắc các bệnh nguy hiểm khác hoàn toàn có thể chữa khỏi hoặc có thể sống sót lâu dài.

Nam y đạo pháp

 
Thuốc XOANG Dạng Xịt Mới


Sau nhiều năm nghiên cứu. TT nghiên cứu và phát triển YHCT đã thành công trong việc điều chế thuốc CHỮA XOANG bằng Nam dược dưới dạng lọ xịt rất tiện lợi và hiệu quả.



Chi tiết, xin liên hệ:
Ông Đinh Lai Thịnh
Giám đốc TT NC&PT YHCT
ĐT: 01229227695
hoặc 0913530220



Website liên kết




   Trang trước Lên trên   

Copyright © Dokinhlac.com.vn - Email:Laithinh@viettel.vn
Đã có tổng số: (đang Online: 48) 1438229 lượt người truy cập vào Website này!